Số KiếpWiki
Tìm
Định mệnh & tự do ý chí

Tự do ý chí là gì: ba lập trường lớn trong triết học phương Tây

Tự do ý chí có ba lập trường lớn: tất định cứng phủ nhận, tự do luận khẳng định, thuyết tương thích cho rằng tự do và tất định cùng đúng. Đa số triết gia chọn phe thứ ba.

Tự do ý chí là gì: ba lập trường lớn trong triết học phương Tây

Tự do ý chí là khả năng con người thật sự lựa chọn hành động của mình, theo cách đủ để ta chịu trách nhiệm về lựa chọn đó. Triết học có ba lập trường lớn: tất định cứng (không có tự do ý chí vì mọi thứ đã bị quy định), tự do luận (có tự do ý chí, nên thế giới không thể tất định hoàn toàn) và thuyết tương thích (tự do và tất định cùng tồn tại được). Trong giới triết học chuyên nghiệp hiện nay, thuyết tương thích là quan điểm được nhiều người chọn nhất.

Câu hỏi này có từ thời Hy Lạp cổ, nhưng đến nay vẫn chưa ngã ngũ. Hiểu được ba lập trường không giúp ta kết thúc cuộc tranh luận, nhưng giúp nhận ra mỗi khi ai đó nói "đời là do số" hay "muốn là được", người ấy đang đứng ở phe nào mà không biết.

Câu hỏi thật sự là gì

Tự do ý chí không phải chuyện có được đi lại, nói năng tự do theo luật pháp. Đó là chuyện sâu hơn: khi ta quyết định uống trà thay vì cà phê, liệu ta có thể đã chọn khác không, trong đúng hoàn cảnh đó, với đúng bộ não đó?

Từ đó nảy ra hai câu hỏi tách bạch:

  • Câu hỏi siêu hình: thế giới có tất định không? Nếu có, mọi quyết định đã được quy định trước bởi trạng thái vũ trụ và quy luật tự nhiên (xem bài về con quỷ của Laplace).
  • Câu hỏi về trách nhiệm: nếu không thể chọn khác, ta có đáng bị khen, chê, phạt hay biết ơn vì việc mình làm không?

Ba lập trường dưới đây khác nhau ở cách trả lời ghép hai câu hỏi này.

Lập trường thứ nhất: tất định cứng

Người theo tất định cứng (hard determinism) lập luận đơn giản: thế giới tất định; tự do ý chí đòi hỏi khả năng chọn khác; vậy tự do ý chí là ảo giác.

Tư tưởng này có gốc từ Spinoza (thế kỷ 17), người cho rằng con người tưởng mình tự do chỉ vì biết hành động của mình mà không biết nguyên nhân gây ra nó. Ông ví như hòn đá đang bay, nếu có ý thức, sẽ tưởng mình bay vì muốn bay. Thế kỷ 18, d'Holbach đẩy quan điểm này đi xa hơn.

Gần đây có một nhánh mới gọi là "hoài nghi tự do ý chí" (free will skepticism), tiêu biểu là triết gia Derk Pereboom. Nhánh này không dừng ở chỗ phủ nhận, mà hỏi tiếp: nếu không ai đáng bị trừng phạt theo nghĩa "đáng đời", xã hội nên đối xử với người phạm tội thế nào? Câu trả lời của họ thiên về cách ly để bảo vệ cộng đồng và cải tạo, giống cách ta cách ly người mang bệnh truyền nhiễm mà không coi đó là trả thù.

Điểm yếu hay bị nêu: nếu tất định cứng đúng, thì chính việc ta tin hay không tin tất định cứng cũng đã bị quy định sẵn, và rất khó sống hằng ngày mà không cảm thấy giận một người lừa mình hay biết ơn một người cứu mình.

Lập trường thứ hai: tự do luận

Tự do luận (libertarianism, không liên quan tới trường phái chính trị cùng tên) đi ngược lại: ta có tự do ý chí, điều đó gần như hiển nhiên từ trải nghiệm; tự do đòi hỏi khả năng chọn khác; vậy thế giới, ít nhất ở chỗ con người quyết định, không thể tất định hoàn toàn.

Có hai biến thể chính:

  • Thuyết tác nhân nhân quả (agent causation): con người là một nguồn gây ra hành động, không bị quy về chuỗi sự kiện trước đó. Thomas Reid (thế kỷ 18) và Roderick Chisholm (thế kỷ 20) là đại diện.
  • Thuyết sự kiện bất định: quyết định vẫn do các sự kiện trong não gây ra, nhưng các sự kiện ấy có yếu tố bất định thật. Robert Kane là người phát triển hướng này kỹ nhất.

Lập luận mạnh nhất của phe này là "lập luận hệ quả" (consequence argument) do Peter van Inwagen trình bày trong cuốn An Essay on Free Will năm 1983: nếu tất định đúng, hành động của ta là hệ quả của quy luật tự nhiên và các sự kiện xa xưa trước khi ta sinh ra; ta không làm chủ được những thứ đó; vậy ta cũng không làm chủ được hệ quả của chúng.

Điểm yếu thường bị nêu: nếu quyết định của ta có phần do bất định, thì phần bất định ấy giống tung đồng xu hơn là tự chủ. Làm sao ngẫu nhiên lại khiến ta có trách nhiệm hơn? Đây gọi là "vấn đề may rủi" của tự do luận.

Lập trường thứ ba: thuyết tương thích

Thuyết tương thích (compatibilism) cho rằng câu hỏi bị đặt sai từ đầu. Tự do không có nghĩa là thoát khỏi nhân quả, mà là hành động theo đúng mong muốn và lý lẽ của chính mình, không bị ép buộc.

David Hume ở thế kỷ 18 đã nêu ý này: tự do là khả năng hành động hay không hành động tuỳ theo ý muốn; trái nghĩa với tự do không phải là "có nguyên nhân" mà là "bị cưỡng ép". Người bị trói không tự do; người quyết định đi dạo vì muốn đi dạo là tự do, dù mong muốn đi dạo có nguyên nhân.

Thế kỷ 20 thêm ba đóng góp lớn:

  1. Harry Frankfurt (1969) nêu các tình huống nay mang tên ông: một người tự quyết định làm việc X, nhưng giả sử có kẻ đã cài sẵn thiết bị trong não, chỉ chờ người ấy định làm khác là can thiệp ép làm X. Thiết bị không cần dùng đến. Người ấy không thể chọn khác, nhưng ta vẫn thấy họ chịu trách nhiệm. Vậy trách nhiệm có lẽ không đòi hỏi khả năng chọn khác.
  2. Frankfurt (1971) còn phân biệt mong muốn bậc một (muốn hút thuốc) và mong muốn bậc hai (muốn mình đừng muốn hút thuốc). Người tự do là người hành động theo mong muốn mà chính họ tán thành.
  3. P. F. Strawson (1962), trong bài "Freedom and Resentment", cho rằng trách nhiệm đạo đức dựa trên những cảm xúc tự nhiên giữa người với người như oán giận, biết ơn, tha thứ. Những cảm xúc ấy không chờ siêu hình học phân xử xong mới được phép tồn tại.

Phe đối lập gọi thuyết tương thích là "đánh tráo khái niệm". Kant từng gọi lối giải quyết kiểu này là "một mánh khoé tồi". Câu hỏi còn đó: nếu mong muốn của ta cũng do gen và hoàn cảnh tạo ra, thì "hành động theo mong muốn của mình" có thật sự là tự do không?

Bảng so sánh ba lập trường

Tất định cứngTự do luậnThuyết tương thích
Thế giới tất định?CóKhông hoàn toànCó thể có, không quan trọng
Có tự do ý chí?KhôngCóCó
Tự do nghĩa là gì?Khả năng chọn khác (nên không có)Khả năng chọn khác trong đúng hoàn cảnh ấyHành động theo lý lẽ, mong muốn của chính mình, không bị ép
Tên tiêu biểuSpinoza, d'Holbach, PereboomReid, Chisholm, Kane, van InwagenHume, Frankfurt, Strawson, Dennett
Bị chê ở đâuKhó sống theo được; làm lung lay trách nhiệmNgẫu nhiên không tạo ra tự chủBị cho là đổi nghĩa chữ "tự do"

Giới triết học đang nghiêng về đâu

Trang PhilPapers đã khảo sát các triết gia chuyên nghiệp hai lần, năm 2009 và 2020. Cả hai lần, khoảng sáu trên mười người chọn hoặc nghiêng về thuyết tương thích; tự do luận và "không có tự do ý chí" mỗi bên chỉ được khoảng một đến hai trên mười. Cần nói rõ: đây là thăm dò ý kiến chuyên gia, không phải bằng chứng ai đúng. Lịch sử triết học có nhiều lần số đông đổi ý.

Còn khoa học thần kinh thì sao? Thí nghiệm Libet năm 1983 và các nghiên cứu tiếp theo hay bị dẫn ra như bằng chứng "não quyết định trước khi ta biết". Nhưng diễn giải của các thí nghiệm ấy còn tranh cãi lớn (xem bài riêng về Libet). Đến nay chưa có thí nghiệm nào giải quyết dứt điểm câu hỏi triết học này.

Ba lập trường trong lời ăn tiếng nói người Việt

Không cần đọc Hume hay Spinoza, ta vẫn nghe ba lập trường này hằng ngày:

  • "Số trời đã định, tránh sao được" nghe giống tất định cứng, nhưng thực ra gần với định mệnh luận hơn, vì nó ngầm cho rằng làm gì cũng thế.
  • "Muốn là được", "có chí thì nên" gần với tự do luận ở tinh thần, dù người nói không bàn chuyện vật lý.
  • "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính" thừa nhận phần ta không chọn; còn lời khuyên "biết người biết ta" thì ngầm cho rằng trong khuôn khổ ấy vẫn có chỗ để cân nhắc, chọn lựa. Ghép lại, đó là tinh thần của thuyết tương thích.

Góc nhìn hôm nay

Câu hỏi tự do ý chí có hệ quả rất thực. Toà án xem xét năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bị cáo; điều đó dựa trên một hình dung nào đó về tự do. Cách ta đối xử với người nghiện, người mắc bệnh tâm thần, trẻ vị thành niên phạm tội đều phản ánh việc ta đặt ranh giới tự do và trách nhiệm ở đâu.

Ở mức cá nhân, có một gợi ý rút ra từ cả ba phe: thừa nhận phần lớn đời mình chịu ảnh hưởng của thứ mình không chọn giúp ta bớt khắt khe với người khác; còn việc vẫn cân nhắc, cố gắng và chịu trách nhiệm thì là điều cả ba phe đều không ngăn cản ta làm.

Muốn đọc thêm: mục "Free Will" và "Compatibilism" trong Stanford Encyclopedia of Philosophy; cuốn mỏng Four Views on Free Will (2007) cho bốn triết gia tranh luận trực tiếp; và tiểu luận Freedom Evolves (2003) của Daniel Dennett nếu muốn nghe giọng bênh vực thuyết tương thích từ góc tiến hoá.

Câu hỏi thường gặp

Tự do ý chí là gì?

Tự do ý chí là khả năng con người thật sự lựa chọn hành động của mình, theo cách đủ để chịu trách nhiệm về lựa chọn đó. Tranh cãi xoay quanh việc khả năng ấy có tồn tại không nếu mọi sự kiện trong não đều có nguyên nhân từ trước.

Thuyết tương thích là gì?

Thuyết tương thích cho rằng tự do ý chí và thuyết tất định có thể cùng đúng. Tự do ở đây là hành động theo mong muốn, lý lẽ của chính mình, không bị cưỡng ép, chứ không phải thoát khỏi mọi nguyên nhân. Hume, Frankfurt, Strawson, Dennett là những tên tiêu biểu.

Tự do luận trong triết học khác tự do chủ nghĩa chính trị thế nào?

Chúng chỉ trùng tên tiếng Anh (libertarianism). Tự do luận trong triết học là quan điểm cho rằng con người có tự do ý chí và thế giới không hoàn toàn tất định. Nó không nói gì về vai trò của nhà nước hay thị trường.

Đa số triết gia tin vào tự do ý chí không?

Theo khảo sát PhilPapers năm 2009 và 2020, khoảng sáu trên mười triết gia chuyên nghiệp chọn hoặc nghiêng về thuyết tương thích, tức là tin có tự do ý chí theo nghĩa của thuyết này. Đây là ý kiến số đông, không phải bằng chứng quyết định.

Nếu không có tự do ý chí thì có nên phạt người phạm tội không?

Những người hoài nghi tự do ý chí như Derk Pereboom vẫn chấp nhận cách ly người nguy hiểm để bảo vệ cộng đồng, nhưng phản đối trừng phạt theo nghĩa "đáng đời". Họ đề xuất mô hình gần với cách ly y tế và cải tạo. Đây là đề xuất triết học, còn nhiều tranh luận.

Mở app Số Kiếp

Sống trọn một đời người trong vài phút

Mở app Số Kiếp

Bài viết liên quan

Mở app Số Kiếp

Sống trọn một đời người trong vài phút

Mở app Số Kiếp Xem app khác