Tứ trụ (bốn cột) hay bát tự (tám chữ) là phép đoán vận mệnh Trung Hoa dựa trên can chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh: mỗi "cột" gồm một thiên can và một địa chi, bốn cột thành tám chữ. Người xem lấy tám chữ ấy quy ra ngũ hành, xét sinh khắc để đoán tính cách, vận hạn. Gốc của nó là lịch can chi, một hệ thống đếm ngày tháng có từ hơn ba nghìn năm trước; chính vì là một cách đếm, can chi không mang thông tin nào về đời người, và phép đoán dựng trên nó chưa từng vượt qua kiểm nghiệm khoa học.
Lịch can chi: một cách đếm rất cổ
Hệ can chi gồm mười thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và mười hai địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Ghép lần lượt can với chi được một vòng 60 tổ hợp, từ Giáp Tý đến Quý Hợi, gọi là một hoa giáp.
Các mảnh xương thú, mai rùa khắc chữ đời Thương (khoảng thế kỷ 13–11 trước Công nguyên) đã có những bảng ghi đủ sáu mươi cặp can chi dùng để đánh số ngày. Vòng 60 ngày ấy được cho là đã chạy liên tục qua hàng nghìn năm, giống như vòng bảy ngày trong tuần của chúng ta. Dùng can chi để gọi tên năm thì muộn hơn, phổ biến từ khoảng đời Hán. Can chi về bản chất là một hệ đánh số, như số thứ tự trên vé xe, không phải một quan sát tự nhiên.
Từ ba cột đến bốn cột
Theo các nguồn truyền thống, người đầu tiên dùng can chi ngày sinh để đoán số một cách có hệ thống là Lý Hư Trung đời Đường. Văn bia mộ ông do Hàn Dũ viết có nhắc việc ông dùng năm, tháng, ngày sinh với can chi để đoán sang hèn thọ yểu, tức là mới có ba cột. Đến đời Tống, tương truyền Từ Tử Bình thêm cột giờ và lấy can của ngày sinh làm trung tâm (gọi là "nhật chủ"), nên phép này còn được gọi là Tử Bình. Các sách như Uyên hải tử bình, Tam mệnh thông hội (đời Minh) hệ thống hoá phương pháp. Như nhiều thuật số khác, chi tiết về người sáng lập nên hiểu là truyền thống của nghề, không phải sử liệu chắc chắn.
Tám chữ được dựng thế nào
| Cột | Lấy theo | Điểm đáng chú ý |
|---|---|---|
| Năm | can chi của năm | năm trong bát tự bắt đầu từ tiết Lập Xuân (khoảng 4/2 dương lịch), không phải từ Tết âm lịch |
| Tháng | can chi của tháng | tháng tính theo tiết khí (mặt trời), không theo tháng âm (mặt trăng) |
| Ngày | can chi của ngày | vòng 60 ngày chạy liên tục |
| Giờ | can chi của canh giờ | 12 canh giờ, mỗi canh hai tiếng |
Rồi mỗi chữ được quy về một trong năm hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) và âm dương, người xem xét hành nào mạnh, hành nào yếu, hành nào "dụng thần" cần bổ sung, chia đời người thành các "đại vận" mười năm. Ngũ hành vốn là một cách phân loại vạn vật rất cổ: danh sách năm hành đã có trong thiên Hồng Phạm của Kinh Thư. Đó là một khung tư duy của triết học cổ, không phải năm nguyên tố được hoá học hay vật lý hiện đại xác nhận.
Một mâu thuẫn ngay trong cách tính "tuổi"
Bảng trên cho thấy một điều thú vị. Người Việt thường tính tuổi con giáp theo Tết âm lịch, nhưng bát tự lại đổi năm ở tiết Lập Xuân. Hai mốc này có năm trùng nhau, có năm lệch nhau vài tuần. Một em bé sinh vào khoảng giữa hai mốc ấy sẽ "tuổi Tý" theo cách tính dân gian nhưng "tuổi Hợi" theo bát tự, hoặc ngược lại. Hai hệ cùng tự nhận là đúng, nhưng không thể cùng đúng. Đây là dấu hiệu rõ ràng rằng ranh giới năm là quy ước, và vận mệnh không thể đổi chỉ vì một quy ước.
Bao nhiêu người cùng tám chữ
Vì can tháng phụ thuộc can năm, can giờ phụ thuộc can ngày, tổng số bộ tám chữ khác nhau là 60 năm × 12 tháng × 60 ngày × 12 giờ = 518.400. Mỗi ngày trên Trái Đất có khoảng 360 nghìn em bé chào đời, chia cho 12 canh giờ, nghĩa là mỗi canh giờ có chừng ba mươi nghìn trẻ cùng chung tám chữ (nếu bỏ qua chênh lệch múi giờ). Ba mươi nghìn đứa trẻ ấy sinh ở mọi châu lục, trong mọi hoàn cảnh.
Khoa học đã kiểm nghiệm gì
Hầu như chưa có nhà thực hành bát tự nào công bố một phép thử mù có đối chứng cho phương pháp của mình. Nhưng có những nghiên cứu kiểm tra chung ý tưởng "thời điểm sinh định đời người", áp dụng được cho mọi phép đoán dựa trên giờ sinh.
Nghiên cứu nổi bật là của Geoffrey Dean và Ivan Kelly (công bố năm 2003). Họ dùng dữ liệu của một nghiên cứu theo dõi dài hạn ở Anh, chọn hơn hai nghìn người sinh vào đầu tháng 3 năm 1958, nhiều người sinh cách nhau chỉ vài phút, gọi là "song sinh thời gian". Theo mọi phép đoán dựa trên giờ sinh, những người này phải giống nhau rõ rệt. Các nhà nghiên cứu so sánh hơn một trăm đặc điểm được đo trong nhiều thập kỷ (chỉ số trí tuệ, tính cách, nghề nghiệp, sức khoẻ, hôn nhân…) và không thấy sự giống nhau nào vượt quá mức ngẫu nhiên.
Khi niềm tin thay đổi cả số trẻ chào đời
Bát tự không đoán được vận mệnh, nhưng niềm tin vào can chi thì tác động rất thật lên xã hội:
- Năm Bính Ngọ 1966 ở Nhật Bản: theo một mê tín cũ, con gái sinh năm "Hoả Ngọ" (hinoeuma) sẽ có tính khí dữ dằn, khắc chồng. Năm 1966, số trẻ sinh ở Nhật giảm khoảng một phần tư so với năm trước, rồi tăng trở lại năm 1967. Hàng trăm nghìn ca sinh đã được "dời" hoặc không xảy ra vì một chữ can chi.
- Năm Rồng: nhà nhân khẩu học Daniel Goodkind (1991) ghi nhận số ca sinh tăng vọt vào các năm Thìn trong cộng đồng người Hoa ở Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và Malaysia. Trẻ sinh năm "đẹp" phải chen nhau vào lớp học, kỳ thi, thị trường việc làm đông hơn bình thường, đúng điều ngược lại với "may mắn".
Những rủi ro thật của phép xem tám chữ
- Chọn giờ sinh cho con: vì bát tự phụ thuộc vào giờ, có gia đình muốn mổ lấy thai đúng canh giờ "đẹp". Việc mổ và chọn thời điểm sinh là quyết định của bác sĩ sản khoa theo chỉ định y khoa; can thiệp không cần thiết đặt mẹ và bé trước những rủi ro thật.
- Ngăn cản hôn nhân: tám chữ được dùng để "hợp hôn", có khi khiến những đôi yêu nhau bị gia đình ngăn cản (bàn kỹ ở bài về xem tuổi vợ chồng).
- Đặt tên, đổi tên tốn kém: dịch vụ đặt tên "bổ khuyết ngũ hành" thu phí cao mà không có cơ sở.
- Tâm lý tự hạn chế: tin mình "mệnh nhược", "thiếu Kim" có thể khiến người ta né những lựa chọn tốt.
Góc nhìn hôm nay
Lịch can chi là một di sản thật sự đáng quý: nó cho phép các nhà sử học đối chiếu niên đại qua hàng nghìn năm, nó ở trong tên các sự kiện lịch sử (năm Mậu Thân, năm Ất Dậu), trong văn chương và câu đối. Hiểu can chi là hiểu một phần lịch sử văn hoá Đông Á. Nhưng một vòng đếm, dù cổ đến đâu, vẫn chỉ là vòng đếm. Đời một đứa trẻ được định hình bởi sức khoẻ, gia đình, giáo dục, cơ hội và chính lựa chọn của nó, không phải bởi tám chữ được tra ra từ lịch.
Muốn tìm hiểu thêm về lịch can chi như một hệ thống thiên văn – lịch pháp, có thể đọc các sách về lịch sử lịch Việt Nam và Trung Hoa, hoặc tra bảng đối chiếu âm dương lịch do các nhà thiên văn biên soạn.
Câu hỏi thường gặp
Tứ trụ bát tự là gì?
Tứ trụ là bốn cột can chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh; mỗi cột hai chữ nên gọi là bát tự (tám chữ). Người xem quy tám chữ ra ngũ hành để đoán tính cách và vận hạn. Đây là thuật số truyền thống, không phải khoa học.
Ai sáng lập phép xem bát tự?
Theo truyền thống, Lý Hư Trung đời Đường dùng ba cột năm, tháng, ngày; Từ Tử Bình đời Tống thêm cột giờ, nên phép này còn gọi là Tử Bình. Các chi tiết này là truyền thống của nghề, không phải sử liệu chắc chắn.
Can chi là gì?
Can chi là hệ đếm gồm 10 thiên can và 12 địa chi ghép thành vòng 60, có từ đời Thương để đánh số ngày, về sau dùng gọi tên năm, tháng, giờ. Về bản chất đó là một cách đánh số như thứ trong tuần.
Bát tự có được kiểm nghiệm khoa học chưa?
Chưa có phép thử mù có đối chứng nào cho thấy bát tự đúng. Nghiên cứu của Dean và Kelly năm 2003 trên hơn hai nghìn người sinh cách nhau vài phút không thấy họ giống nhau hơn mức ngẫu nhiên.
Năm trong bát tự bắt đầu từ Tết hay Lập Xuân?
Bát tự đổi năm ở tiết Lập Xuân, khoảng ngày 4 tháng 2 dương lịch, trong khi cách tính tuổi con giáp dân gian thường đổi ở Tết âm lịch. Vì hai mốc có thể lệch nhau, cùng một người có thể mang hai "tuổi" khác nhau.