Số KiếpWiki
Tìm
Một đời người Việt xưa

Tha phương cầu thực: đi khai hoang, đi buôn, đi làm thuê thời xưa

Đất chật, thiên tai, nợ nần đẩy người Việt xưa rời làng đi khai hoang, đi buôn, đi làm thuê; chính họ đã mở ra nhiều vùng đất mới như Gia Định, Tiền Hải, Kim Sơn.

Tha phương cầu thực: đi khai hoang, đi buôn, đi làm thuê thời xưa

Tha phương cầu thực nghĩa là bỏ quê đi nơi khác kiếm ăn. Người Việt xưa vốn gắn chặt với làng, nhưng đất chật người đông, thiên tai, mất mùa, nợ nần đã đẩy rất nhiều người ra đi theo ba ngả chính: đi khai hoang lập làng mới, đi buôn, và đi làm thuê. Những chuyến đi ấy góp phần mở rộng đất nước về phía Nam và để lại trong tiếng Việt cả một kho lời ăn tiếng nói về nỗi nhớ quê.

Vì sao phải bỏ làng

Với người nông dân xưa, rời làng là chuyện lớn. Làng có mồ mả tổ tiên, có đình thờ thành hoàng, có họ hàng nương tựa. Người bỏ làng đi dễ bị coi là "dân ngụ cư", mất chỗ đứng. Vậy mà người ta vẫn đi, vì những lý do rất cụ thể:

  • Đất chật người đông: ở đồng bằng Bắc Bộ, ruộng chia nhỏ qua nhiều đời, nhiều nhà không còn đủ ruộng nuôi miệng ăn.
  • Thiên tai: lũ lụt, vỡ đê, hạn hán làm mất trắng cả vụ.
  • Sưu thuế, nợ nần: không trả nổi, có khi phải bỏ trốn.
  • Cơ hội: nghe nói ở phương Nam đất rộng, ở phố có việc làm.

Ngả thứ nhất: đi khai hoang

Vào phương Nam

Từ thế kỷ 17, dưới thời các chúa Nguyễn, dòng người từ vùng Thuận Hoá, Quảng Nam lần lượt đi vào vùng đất phía Nam, vỡ đất, lập ruộng, dựng làng. Theo các sách sử triều Nguyễn, năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh được cử vào kinh lược, lập phủ Gia Định, đặt nền móng hành chính cho vùng đất mà lưu dân đã khai phá từ trước.

Những người đi đầu thường là nông dân nghèo, người trốn sưu thuế, có cả người bị tội lưu đày. Họ mang theo giống lúa, nông cụ, tập quán, và cả tên làng cũ. Ở nhiều đình làng Nam Bộ, người ta thờ "tiền hiền khai khẩn", tức những người đầu tiên đến vỡ đất lập làng, cùng "hậu hiền" là những người có công về sau.

Khai hoang ven biển Bắc Bộ

Khai hoang không chỉ đi về phương Nam. Năm 1828 – 1829, dưới triều Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ làm Dinh điền sứ, chiêu tập dân nghèo khai khẩn bãi bồi ven biển, lập nên vùng Tiền Hải và Kim Sơn. Hàng nghìn người không ruộng có được đất cày, và nhiều nơi ở hai vùng này đến nay vẫn thờ ông.

Ngả thứ hai: đi buôn

Đi buôn là cách tha phương của người có chút vốn. Các hình thức phổ biến:

Hình thứcCách làmAi thường làm
Buôn gánhGánh hàng đi bộ qua các chợ phiên, nghỉ trọ dọc đườngPhụ nữ, người ít vốn
Buôn chuyếnMua hàng một vùng chở bán vùng khác theo mùaNgười có vốn, có quan hệ
Buôn thuyềnChở gạo, muối, cá, gốm dọc sông và ven biểnCác gia đình sống trên sông nước

Những thương cảng như Phố Hiến ở Đàng Ngoài, Hội An ở Đàng Trong thế kỷ 17 – 18 thu hút người buôn bán từ khắp nơi, cả người Việt lẫn thương nhân nước ngoài. Đường buôn cũng là đường người ta ở lại: nhiều người đi buôn rồi lấy vợ, lập nghiệp nơi đất mới.

Đi buôn nhiều rủi ro: cướp đường, đắm thuyền, lỗ vốn. Gia đình ở nhà thắp hương cầu cho người đi buôn chuyến bình an trở về.

Ngả thứ ba: đi làm thuê

Làm thuê theo mùa

Ở những vùng chỉ cấy được một vụ, sau mùa gặt, nông dân rủ nhau đi gặt thuê, cấy thuê ở vùng khác chín sớm hơn hoặc muộn hơn. Hết mùa lại về. Đây là kiểu tha phương ngắn ngày, phổ biến nhất.

Đi ở

Trẻ con, nhất là con gái nhà nghèo, bị gửi đi "ở" cho nhà giàu trong làng hoặc ngoài phố: trông trẻ, nấu cơm, giặt giũ, đổi lấy cơm ăn và chút tiền công cho bố mẹ. Đời người đi ở phụ thuộc hoàn toàn vào lòng tốt của chủ.

Đi phu

Đầu thế kỷ 20, dưới thời Pháp thuộc, các đồn điền cao su ở Nam Kỳ, các mỏ than ở vùng Đông Bắc mộ phu từ các tỉnh Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Nhiều người ký giao kèo vì đói, rồi rơi vào cảnh làm việc nặng nhọc, sốt rét, ăn uống thiếu thốn, không về được. Câu ca dao còn lưu lại: "Cao su đi dễ khó về, khi đi trai tráng khi về bủng beo."

Đời người tha hương

Người đi xa mang theo quê hương bằng nhiều cách. Họ lập làng mới, đặt tên theo làng cũ. Họ dựng đình, rước thần làng cũ vào thờ. Họ lập hội đồng hương để giúp nhau khi ốm đau, ma chay. Câu ca dao quen thuộc nói lên nỗi nhớ ấy bằng những thứ bình thường nhất: "Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương."

Quan niệm "lá rụng về cội" khiến nhiều người mong được chôn ở quê. Có gia đình làm ăn xa nhiều đời, đến khi cải táng vẫn đưa hài cốt ông bà về nghĩa trang làng cũ. Ngược lại, nhiều dòng họ ở đất mới sau vài thế hệ đã coi nơi ấy là quê, và tổ tiên họ được thờ như tiền hiền.

Tha phương có phải số khổ?

Dân gian hay nói "số tha phương", như thể rời quê là phận bạc. Nhưng nhìn lại lịch sử, chính những người tha phương đã làm nên những vùng đất mới, những làng mới, những phố buôn sầm uất. Đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven biển Tiền Hải, Kim Sơn đều là thành quả của những người phải bỏ quê đi kiếm ăn. Cái khổ là thật, nhưng nó không phải là toàn bộ câu chuyện.

Góc nhìn hôm nay

Tha phương cầu thực vẫn đang diễn ra dưới dạng mới: người từ nông thôn lên thành phố làm công nhân, người đi xuất khẩu lao động. Hiểu những chuyến đi của ông cha giúp nhìn những người đi làm xa hôm nay bằng con mắt thông cảm hơn: họ cũng đang làm điều người Việt đã làm suốt mấy trăm năm.

Với ai muốn tìm hiểu gốc gác gia đình mình: hỏi ông bà xem họ mình từ đâu đến, ai là người đầu tiên đến nơi đang ở. Nhiều đình làng Nam Bộ còn bài vị tiền hiền ghi tên người khai khẩn. Đền thờ Nguyễn Công Trứ ở Tiền Hải và Kim Sơn là nơi gắn với một cuộc khai hoang được ghi chép rõ ràng trong sử sách.

Câu hỏi thường gặp

Tha phương cầu thực nghĩa là gì?

Là bỏ quê đi nơi khác kiếm ăn. "Tha phương" là phương khác, xứ khác; "cầu thực" là tìm cái ăn. Cụm từ thường dùng cho người phải rời quê vì nghèo khó.

Ai là người lập phủ Gia Định?

Theo các sách sử triều Nguyễn, năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào kinh lược vùng đất phía Nam và lập phủ Gia Định, trên nền vùng đất lưu dân đã khai phá trước đó.

Nguyễn Công Trứ khai hoang ở đâu?

Năm 1828 – 1829, với chức Dinh điền sứ, Nguyễn Công Trứ chiêu tập dân nghèo khai khẩn bãi bồi ven biển, lập nên vùng Tiền Hải và Kim Sơn. Nhiều nơi ở hai vùng này vẫn lập đền thờ ông.

Tiền hiền khai khẩn là gì?

Là cách gọi những người đầu tiên đến vỡ đất, lập làng ở một vùng mới. Nhiều đình làng, nhất là ở Nam Bộ, thờ tiền hiền khai khẩn cùng hậu hiền là những người có công về sau.

Câu Cao su đi dễ khó về nói về điều gì?

Là ca dao về cảnh người nông dân bị mộ đi làm phu đồn điền cao su thời Pháp thuộc đầu thế kỷ 20. Đi thì trai tráng khoẻ mạnh, về thì ốm yếu bủng beo vì sốt rét và lao động khổ cực.

Mở app Số Kiếp

Sống trọn một đời người trong vài phút

Mở app Số Kiếp

Bài viết liên quan

Mở app Số Kiếp

Sống trọn một đời người trong vài phút

Mở app Số Kiếp Xem app khác