Đi học chữ Nho ở làng xưa nghĩa là theo một ông đồ, thường dạy ngay tại nhà mình hoặc được nhà khá giả mời về, ngồi chiếu, học thuộc lòng các sách vỡ lòng như Tam tự kinh, Tam thiên tự, rồi lên dần tới Tứ thư, Ngũ kinh. Con trai nhà có điều kiện bắt đầu từ khoảng sáu, bảy tuổi; con gái và trẻ nhà nghèo phần lớn không được học. Đây là con đường "đèn sách" mà nhiều gia đình đặt cả hy vọng đổi đời vào.
Ông đồ là ai
"Đồ" là cách gọi người dạy chữ Nho ở làng. Phần lớn là người có học nhưng chưa đỗ đạt cao, hoặc đỗ tú tài mà không ra làm quan, cũng có người đã đi thi nhiều khoa không thành. Một số vị đỗ cao, cáo quan về quê cũng mở trường dạy học, nổi tiếng thì học trò khắp vùng kéo về.
Có hai kiểu dạy phổ biến:
- Thầy mở lớp tại nhà: học trò trong làng và làng bên đến học, đóng góp theo khả năng.
- Thầy được mời về nhà: một gia đình khá giả mời thầy về ở, lo ăn ở, nhờ dạy con cháu mình, thường cho cả trẻ trong họ, trong xóm học cùng.
Thầy đồ ít khi có lương cố định. Học trò đóng góp gạo, tiền vào các dịp trong năm, biếu quà ngày Tết, ngày giỗ. Nghề đồ được kính trọng nhưng phần nhiều thanh bạch.
Lễ khai tâm: ngày đầu đi học
Ngày đầu tiên đứa trẻ đi học được coi là việc lớn. Gia đình chọn ngày, sửa một mâm lễ mang tới nhà thầy, thường có trầu cau, rượu, xôi gà hoặc oản chuối. Thầy làm lễ trước bàn thờ Khổng Tử hoặc các bậc tiên sư, rồi dạy cho trò những chữ đầu tiên. Lễ này thường được gọi là lễ khai tâm, nghĩa là mở lòng cho chữ vào. Từ hôm đó đứa trẻ chính thức là học trò của thầy, và quan hệ thầy trò được coi là gắn bó suốt đời.
Sách vỡ lòng và các bậc học
| Bậc | Sách thường học | Nội dung |
|---|---|---|
| Vỡ lòng | Tam tự kinh; Tam thiên tự; Nhất thiên tự | Mỗi câu ba chữ dễ nhớ; danh sách chữ Hán kèm nghĩa Nôm có vần |
| Sơ học | Sơ học vấn tân; Ấu học ngũ ngôn thi; Minh tâm bảo giám | Lịch sử tóm lược, thơ năm chữ dạy đạo lý, lời răn của người xưa |
| Trung học | Tứ thư: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử | Kinh điển Nho gia về tu thân, đạo làm người, việc trị nước |
| Cao học | Ngũ kinh: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu; Bắc sử, Nam sử | Kinh điển sâu, sử sách, tập làm văn bài cho thi cử |
Tam thiên tự là sách do người Việt soạn, xếp ba nghìn chữ Hán, mỗi chữ đi kèm nghĩa tiếng Việt, ghép thành câu bốn chữ có vần để dễ thuộc. Mấy câu mở đầu nhiều cụ còn thuộc làu: "Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba…". Cuốn sách vừa là từ điển, vừa là bài hát cho trẻ con ê a mỗi sáng.
Một buổi học ở lớp thầy đồ
Lớp học thường là gian nhà ngoài hoặc hiên nhà thầy. Học trò ngồi chiếu, trước mặt kê một chiếc bàn thấp hoặc tráp gỗ. Lớp có trò lớn trò nhỏ, mỗi trò học một bài riêng tuỳ trình độ, thầy lần lượt dạy từng người.
Học đọc: đọc to, thuộc lòng
Thầy đọc mẫu, trò đọc theo, rồi về chỗ đọc đi đọc lại cho tới thuộc. Cả lớp cùng đọc to bài của mình một lúc, tạo nên tiếng ê a quen thuộc vọng ra ngõ. Hôm sau trò lên "trả bài", đọc thuộc lòng cho thầy nghe, thuộc rồi mới được học bài mới.
Học viết: tập tô rồi tự viết
Trò mới học tô theo chữ thầy viết sẵn, sau mới tự viết. Bút lông, mực Tàu mài trong nghiên, giấy bản mua ở chợ. Giấy đắt nên viết kín cả hai mặt, có khi tập trên bảng gỗ, khay cát rồi xoá đi. Chuyện kể về các danh nhân nhà nghèo phải viết lên lá chuối, mo cau hoặc học dưới ánh đom đóm phần nhiều là giai thoại, nhưng phản ánh đúng cảnh thiếu thốn giấy mực.
Kỷ luật
Thầy giữ roi mây trên án. Không thuộc bài, nghịch ngợm thì bị đánh vào tay, bắt quỳ. Cha mẹ hiếm khi bênh con trước thầy. Kỷ luật kiểu ấy nay không còn được chấp nhận, nhưng nó cho thấy vị trí của người thầy trong làng xưa.
Tôn sư trọng đạo
Lòng kính thầy thể hiện qua nhiều câu nói còn quen tới nay:
- "Mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy."
- "Không thầy đố mày làm nên."
- "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư": dạy một chữ cũng là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy.
Học trò đỗ đạt về làng vẫn đến lễ thầy. Khi thầy mất, học trò để tang, góp tiền lo việc. Trong thứ tự "quân, sư, phụ" của Nho giáo, thầy đứng ngay sau vua, trên cả cha.
Học để làm gì
Với phần đông, mục đích cao nhất là đi thi, đỗ đạt, ra làm quan, đem vinh hiển về cho họ hàng làng xóm. Chuyện thi cử của triều đình có bài riêng ở wiki khác trong hệ; ở đây chỉ cần biết rằng con đường ấy rất hẹp, số người đỗ cao chỉ là thiểu số nhỏ.
Phần lớn học trò dừng lại giữa chừng. Biết chữ, họ làm được những việc làng cần: viết văn tự mua bán ruộng, khế ước, viết câu đối, văn tế, xem sổ sách, chép gia phả. Người biết chữ trong một làng mù chữ là người có tiếng nói. Một số trở thành thầy đồ, tiếp tục nối dài chuỗi truyền chữ.
Con gái hầu như không được tới lớp thầy đồ. Những phụ nữ hay chữ hiếm hoi trong sử sách, như Đoàn Thị Điểm, phần lớn học ở nhà với cha anh.
Khi chữ Nho lùi lại
Từ cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, chính quyền thuộc địa mở trường Pháp – Việt, chữ Quốc ngữ lan rộng. Khoa thi Hội cuối cùng ở Huế tổ chức năm 1919. Lớp học của ông đồ thưa dần. Hình ảnh ông đồ già ngồi bán chữ ngày Tết trên hè phố, vắng người thuê viết, đã đi vào bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, đăng năm 1936, như lời tiễn biệt cả một nền học.
Góc nhìn hôm nay
Lối học thuộc lòng, đọc to, chép đi chép lại hay bị chê là máy móc. Nhưng nó cũng rèn trí nhớ và sự kiên nhẫn, và sinh ra những người viết chữ, làm văn rất giỏi. Điều đáng giữ lại nhất có lẽ là sự trân trọng việc học và người thầy, thứ còn sống trong ngày Tết thầy, ngày Nhà giáo.
Muốn hình dung không khí học xưa, có thể đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội, các văn chỉ ở làng (nơi thờ Khổng Tử và ghi danh người đỗ đạt), hoặc xem phố ông đồ cho chữ dịp Tết. Cuốn Nếp cũ của Toan Ánh có những trang tả cảnh học trường làng rất kỹ.
Câu hỏi thường gặp
Ông đồ là ai?
Ông đồ là người dạy chữ Nho ở làng xưa, thường là người có học nhưng chưa đỗ cao hoặc không ra làm quan. Ông mở lớp tại nhà hoặc được gia đình khá giả mời về dạy con cháu.
Trẻ em xưa học chữ Nho bắt đầu bằng sách gì?
Thường bắt đầu bằng Tam tự kinh, Tam thiên tự hoặc Nhất thiên tự, rồi đến Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi. Học lên cao mới tới Tứ thư, Ngũ kinh.
Tam thiên tự là sách gì?
Là sách vỡ lòng do người Việt soạn, xếp ba nghìn chữ Hán, mỗi chữ kèm nghĩa tiếng Việt, ghép thành câu bốn chữ có vần như "Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn". Sách giúp trẻ vừa học chữ vừa học nghĩa.
Lễ khai tâm là gì?
Là lễ ngày đầu đứa trẻ đi học: gia đình mang lễ vật tới nhà thầy, thầy làm lễ trước bàn thờ Khổng Tử hoặc tiên sư rồi dạy những chữ đầu tiên. Từ đó đứa trẻ chính thức thành học trò của thầy.
Con gái thời xưa có được học chữ không?
Hầu như không được tới lớp thầy đồ. Một số ít phụ nữ hay chữ, như Đoàn Thị Điểm, học ở nhà với cha anh trong các gia đình nho học.