Người Việt xưa thường đặt cho con một cái tên xấu ở nhà, như Tí, Cu, Hĩm, Đĩ, Cún, Bờm, vì tin rằng tên xấu thì ma quỷ không để ý, đứa trẻ dễ nuôi. Bên cạnh đó là chuyện kiêng huý: không đặt tên con trùng tên vua, tên tổ tiên, tên người bề trên trong họ, có khi phải đổi cả cách đọc một chữ. Một người đàn ông có học xưa có thể mang tới bốn, năm cái tên qua các chặng đời.
Vì sao đặt tên xấu
Trong một xã hội trẻ con chết nhiều, cha mẹ tìm mọi cách giữ con. Niềm tin phổ biến là ma quỷ, "các bà các cô" hay bắt những đứa trẻ xinh xắn, được cưng chiều. Đặt tên xấu, gọi con là thằng Cu, cái Đĩ, con Hĩm, tức là giả vờ coi nhẹ nó, cho thế lực vô hình không thèm để mắt tới.
Cùng lối nghĩ ấy là những cách gọi như "thằng ranh", "con cún", hay tục giả vờ "bán" con cho chùa, cho đền, gọi là bán khoán, để đứa trẻ thuộc về thần thánh, ma quỷ không dám đụng. Dưới góc nhìn hôm nay, đó là cách những người cha mẹ không có thuốc men, vắc xin xoay xở với nỗi sợ mất con.
Những tên ở nhà quen thuộc
- Cu, Tí, Tèo, Tẹo, Bé: chỉ sự nhỏ bé, trẻ con.
- Hĩm, Đĩ: gọi bé gái ở miền Bắc xưa, gốc từ bộ phận cơ thể hoặc từ chỉ bé gái, không mang nghĩa xấu như nghĩa của chữ "đĩ" ngày nay.
- Cún, Mèo, Nghé, Bê: tên con vật quanh nhà.
- Bờm, Cò, Bống: tên dân dã gắn với ca dao, truyện cổ.
- Thằng Ngoan, cái Út, cái Gái: tên theo đặc điểm hoặc thứ bậc.
Những tên này dùng trong nhà và trong xóm. Khi đứa trẻ lớn, đi học hay ra làm việc, nhất là con trai, thường có thêm tên khác.
Một người, nhiều tên
| Loại tên | Dùng khi nào | Ví dụ quen |
|---|---|---|
| Tên tục, tên ở nhà | Lúc nhỏ, trong nhà, trong xóm | Thằng Cu, cái Tí |
| Tên chính (tên huý) | Ghi sổ đinh, giấy tờ, sau này được giữ kín, kiêng gọi | Tên khai trong sổ làng |
| Tên chữ (tự) | Người có học, bạn bè đồng môn gọi nhau | Nguyễn Du tự Tố Như |
| Tên hiệu | Tự đặt, thường mang ý chí hướng, nơi ở | Nguyễn Du hiệu Thanh Hiên; Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai |
| Tên thuỵ, tên cúng cơm | Sau khi mất, dùng khi cúng giỗ | Tên khấn trong ngày giỗ |
"Tên cúng cơm" là tên thật của người đã khuất, chỉ được nói khi khấn trong ngày giỗ để gọi hồn về hưởng lễ. Lúc người đó còn sống, con cháu kiêng gọi thẳng tên này.
Phụ nữ thường ít tên hơn. Nhiều người cả đời được gọi theo tên chồng hoặc tên con: "bà Cả", "u Tí", "mẹ cái Đĩ". Tục gọi cha mẹ theo tên con đầu lòng, như "bố cu Tèo", "mẹ con Hĩm", vẫn còn ở nhiều làng quê miền Bắc.
Gọi theo thứ: anh Hai, chị Ba
Ở miền Nam, con cả trong nhà được gọi là Hai chứ không phải Một, con thứ hai là Ba, cứ thế tiếp. Có nhiều giải thích về tục này, chẳng hạn ngôi "một" dành cho cha mẹ, hoặc tục xưng hô của những người đi khai hoang. Chưa có giải thích nào được giới nghiên cứu xác nhận chắc chắn. Ở miền Bắc, con cả gọi là Cả, như anh Cả, chị Cả.
Gọi theo thứ là một cách tránh gọi thẳng tên, cũng là một dạng kiêng tên nhẹ nhàng trong đời thường.
Kiêng huý: khi tên bề trên thành cấm kỵ
"Huý" là tên thật của người bề trên mà kẻ dưới phải kiêng không gọi, không viết, không đặt trùng. Có ba lớp kiêng:
Quốc huý: kiêng tên vua và hoàng tộc
Dưới các triều đại phong kiến, tên vua, tên cha mẹ vua, tên một số người trong hoàng tộc là quốc huý. Dân không được đặt tên trùng; khi viết chữ ấy phải đổi chữ khác, viết thiếu nét, hoặc đọc chệch âm. Sĩ tử đi thi viết phạm huý có thể bị đánh trượt, thậm chí bị phạt.
Ví dụ đã được sử liệu ghi lại: theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1232 nhà Trần ban lệ kiêng huý, nhân vì tổ tiên nhà Trần tên là Lý nên đổi họ Lý thành họ Nguyễn. Dưới triều Nguyễn, chữ "Hoàng" bị kiêng ở nhiều vùng phía Nam vì trùng tên chúa Nguyễn Hoàng, nên nhiều người họ Hoàng đọc thành Huỳnh; chữ "Phúc" của họ Nguyễn Phúc thành "Phước". Hai cách đọc Huỳnh và Phước ngày nay vẫn còn rất phổ biến ở miền Trung và miền Nam.
Gia huý: kiêng tên tổ tiên
Trong một dòng họ, con cháu không đặt tên trùng tên ông bà, cha mẹ, chú bác. Ngày giỗ, khi cần nhắc tới các cụ, người ta dùng tên cúng cơm trong lời khấn, còn ngày thường gọi theo thứ bậc.
Kiêng tên trong làng
Nhiều làng có tục kiêng tên thành hoàng làng hoặc tên những vị có công. Người ngoài vào làng phải biết để không nói phạm.
Đặt tên chính: mong ước gửi vào chữ
Khác với tên ở nhà, tên chính thường được chọn kỹ, nhiều nhà nhờ thầy đồ trong làng đặt. Tên con trai hay mang ý chí hướng, học vấn, đức tính: Trung, Hiếu, Nghĩa, Tín, Văn, Đức, Bảo. Tên con gái hay mang ý đẹp đẽ, nết na: Hoa, Nguyệt, Hằng, Thục, Trinh, Hạnh. Nhiều nhà đặt tên các con theo một bộ chữ, như Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, hoặc theo một bài thơ, một câu sách.
Chuyện tên đệm theo dòng họ hay vai vế trong gia phả có bài riêng ở wiki khác trong hệ.
Góc nhìn hôm nay
Tục tên xấu nay chỉ còn ở dạng tên ở nhà dễ thương: Bống, Bin, Mít, Su. Nhiều cha mẹ trẻ vẫn đặt tên ở nhà mà không biết mình đang tiếp nối một tục rất cũ, chỉ có điều nỗi sợ ma quỷ đã nhường chỗ cho sự trìu mến.
Kiêng huý thì còn dấu vết rõ trong tiếng nói: Huỳnh và Hoàng, Phước và Phúc, Võ và Vũ (có thuyết cho rằng do kiêng tên Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, nhưng điều này còn tranh luận). Lần tới gặp một người họ Huỳnh, có thể nghĩ tới việc cách đọc tên họ ấy là một lát cắt lịch sử đã sống sót qua mấy trăm năm.
Muốn tìm hiểu kỹ hơn, cuốn Nghiên cứu chữ huý Việt Nam qua các triều đại của Ngô Đức Thọ là công trình chuyên sâu nhất về đề tài này; hai cuốn Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính và Nếp cũ của Toan Ánh có các mục về đặt tên.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao người xưa đặt tên con xấu?
Vì tin rằng ma quỷ hay bắt những đứa trẻ xinh đẹp, được cưng chiều. Đặt tên xấu như Cu, Tí, Hĩm, Đĩ là cách giả vờ coi nhẹ đứa trẻ để nó dễ nuôi, trong thời trẻ con chết nhiều.
Kiêng huý là gì?
Là tục không gọi, không viết, không đặt tên trùng với tên thật của vua, hoàng tộc, tổ tiên hoặc người bề trên. Khi buộc phải viết, người xưa đổi chữ, viết thiếu nét hoặc đọc chệch âm.
Vì sao họ Hoàng ở miền Nam đọc là Huỳnh?
Vì kiêng huý tên chúa Nguyễn Hoàng, người mở đầu sự nghiệp của các chúa Nguyễn ở phía Nam. Cách đọc Huỳnh được giữ lại tới ngày nay, cũng như Phước thay cho Phúc.
Tên cúng cơm là gì?
Là tên thật của một người, sau khi người đó mất chỉ được nói trong lời khấn ngày giỗ để mời hồn về hưởng lễ. Khi còn sống, con cháu thường kiêng gọi thẳng tên này.
Vì sao người miền Nam gọi con cả là Hai?
Có nhiều giải thích, như dành ngôi "một" cho cha mẹ hay tục xưng hô của người đi khai hoang, nhưng chưa có giải thích nào được xác nhận chắc chắn. Ở miền Bắc, con cả được gọi là Cả.