Số KiếpWiki
Tìm
Số phận trong văn chương

Tắt đèn của Ngô Tất Tố: tóm tắt và số phận chị Dậu trong mùa sưu

Tắt đèn (1937–1939) kể chị Dậu bán con, bán chó để nộp sưu cho chồng, vùng lên trong cảnh tức nước vỡ bờ rồi vẫn bị đẩy vào bóng tối. Khổ không do số mà do sưu thuế.

Tắt đèn của Ngô Tất Tố: tóm tắt và số phận chị Dậu trong mùa sưu

Chị Dậu trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố, đăng báo năm 1937, in sách năm 1939) là người đàn bà nông dân phải bán con, bán chó, bán cả gánh khoai để nộp sưu cho chồng, rồi bị đẩy tới chỗ làm vú em cho nhà quan và suýt bị làm nhục. Số phận chị không do trời: nó do một suất thuế thân đánh lên cả người đã chết, do bọn cường hào và quan lại. Chính vì thế Tắt đèn là bài phản biện mạnh nhất với câu "khổ là do số".

Ngô Tất Tố và hoàn cảnh ra đời của Tắt đèn

Ngô Tất Tố (1893–1954) quê làng Lộc Hà, xứ Kinh Bắc cũ, nay thuộc Hà Nội. Ông học chữ Nho từ nhỏ, đi thi hương, về sau theo nghề báo, dịch thuật và viết văn. Ông am hiểu nông thôn Bắc Bộ, từ lệ làng tới chuyện thuế má, và những hiểu biết ấy đổ cả vào ba tác phẩm lớn: Tắt đèn, Lều chõng, Việc làng.

Tắt đèn đăng nhiều kỳ trên báo Việt nữ từ năm 1937, rồi in thành sách năm 1939. Truyện lấy bối cảnh một làng quê Bắc Bộ, làng Đông Xá, vào mùa thu thuế thân dưới thời Pháp thuộc. Thuế thân (dân gọi là sưu) đánh theo đầu người đàn ông trong độ tuổi, mỗi người một "suất", không kể người đó giàu nghèo hay ốm đau.

Tóm tắt cốt truyện

  1. Mùa sưu. Làng Đông Xá vào vụ thuế. Tiếng trống, tiếng tù và thúc giục suốt ngày đêm. Bọn lý dịch đánh trói những người chưa nộp.
  2. Anh Dậu bị bắt. Nhà chị Dậu nghèo xác xơ. Anh Dậu đang ốm cũng bị bắt trói ở đình vì thiếu sưu.
  3. Bán con, bán chó. Để có tiền, chị Dậu phải bán đứa con gái lớn là cái Tý, mới bảy tuổi, cùng ổ chó cho nhà Nghị Quế. Cảnh hai mẹ con chia tay là một trong những đoạn day dứt nhất của văn học Việt.
  4. Suất sưu của người đã chết. Nộp xong suất của chồng, bọn hào lý lại bắt nộp thêm suất sưu của người em chồng đã chết từ năm trước, vì sổ sưu chưa xoá tên. Anh Dậu bị đánh tới ngất, được khiêng trả về nhà.
  5. Tức nước vỡ bờ. Sáng hôm sau, tên cai lệ và người nhà lý trưởng xông vào đòi trói anh Dậu lần nữa khi anh vừa húp được bát cháo. Chị Dậu van xin không được, đã vùng lên quật ngã cả hai.
  6. Quan phủ Tư Ân. Chị bị giải lên dinh quan phủ. Viên quan tìm cách giở trò, chị ném nắm bạc vào mặt hắn mà chạy về.
  7. Đi ở vú. Cùng đường, chị lên tỉnh làm vú em cho nhà một quan cụ, phải để con mình ở nhà. Ông cụ già đêm đêm mò tới định làm nhục chị.
  8. Tắt đèn. Chị Dậu vùng chạy ra ngoài, giữa trời tối đen. Nhà văn so bóng tối ấy với tương lai của chị: cũng đen như mực. Tiểu thuyết kết thúc ở đó, không có lối ra.

Đoạn "Tức nước vỡ bờ" có trong sách giáo khoa Ngữ văn trung học cơ sở, nên nhiều người chỉ nhớ cảnh chị Dậu quật ngã cai lệ. Đọc trọn tiểu thuyết sẽ thấy đó chỉ là một khoảnh khắc ngắn trong một chuỗi bị dồn ép không dứt.

Chữ "số" trong miệng người nghèo

Trong Tắt đèn, nhân vật nghèo hay nói tới số: số khổ, số nghèo, phận mình nó thế. Đó là cách người nông dân thời ấy giải thích nỗi khổ của mình, và cũng là cách để chịu đựng được nó. Ngô Tất Tố không sửa lời nhân vật, nhưng câu chuyện ông kể thì nói ngược lại.

Nỗi khổ của chị DậuNhân vật nói làTruyện cho thấy là
Chồng bị trói, bị đánhCái số đen đủiHào lý thúc sưu, đánh người để lập công
Phải nộp sưu cho người chếtNghèo thì chịuSổ sưu không xoá tên, thuế đánh theo sổ chứ không theo người
Phải bán conPhận làm mẹ khổThuế thân không tính tới khả năng nộp; nhà giàu nhân đó mua rẻ
Bị quan và quan cụ giở tròPhận đàn bàKẻ có quyền coi thân thể người nghèo là thứ mua được

Cái tài của Ngô Tất Tố là để người đọc tự rút ra kết luận. Ông không cần một câu bình luận nào về số phận; chỉ cần đặt cạnh nhau tiếng trống thúc sưu, bát cháo chưa kịp húp và đống tiền chị Dậu đếm đi đếm lại.

Tức nước vỡ bờ: khi người cam chịu vùng dậy

Tên đoạn trích lấy từ câu tục ngữ "tức nước vỡ bờ": nước dồn tới mức nào đó thì bờ phải vỡ. Trước khi vùng lên, chị Dậu đã đi đủ các bậc của sự nhún nhường: xưng "cháu", gọi cai lệ là "ông", van xin. Chỉ khi tên cai lệ bịch vào ngực chị và xông tới trói chồng chị thì chị mới đổi giọng, rồi mới ra tay.

Đoạn này thường được đọc theo hai hướng. Một là sức sống tiềm tàng của người nông dân: không phải lúc nào họ cũng cam chịu. Hai là giới hạn của sự phản kháng đơn lẻ: chị quật ngã hai tên tay sai, nhưng rồi vẫn bị giải lên quan, và cuối truyện vẫn rơi vào bóng tối. Chính anh Dậu đã nói với vợ rằng làm thế sẽ bị tù, bị tội. Ngô Tất Tố không cho chị một chiến thắng giả.

Vì sao tên tiểu thuyết là Tắt đèn

Có nhiều cách hiểu cho cái tên:

  • Nghĩa đen: cảnh cuối là bóng tối, chị Dậu chạy ra giữa đêm không đèn.
  • Nghĩa bóng: một xã hội không có ánh sáng công lý, nơi người tốt bị đẩy vào đường cùng.
  • Nghĩa về số phận: tương lai của chị bị so là "đen như mực", tức không có lối ra trong khuôn khổ trật tự cũ.

Đây là cái kết rất khác truyện cổ tích "ở hiền gặp lành". Chị Dậu hiền, thương chồng con, giữ mình trong sạch, mà không gặp lành. Nhà văn cố ý không để trời đất bù đắp, để người đọc không thể đổ cho "số".

Đánh giá của người đương thời và hậu thế

Ngay khi in, Tắt đèn đã được giới cầm bút đánh giá cao. Vũ Trọng Phụng khen đây là thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, hoàn toàn phụng sự dân quê. Về sau, giới nghiên cứu xếp Tắt đèn vào hàng tác phẩm tiêu biểu nhất của dòng văn học hiện thực phê phán 1930–1945, cạnh Số đỏ, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, các truyện ngắn của Nam Cao.

Năm 1980, tiểu thuyết được dựng thành phim Chị Dậu do đạo diễn Phạm Văn Khoa thực hiện. Tác phẩm cũng nhiều lần lên sân khấu chèo và kịch nói.

Góc nhìn hôm nay: đọc Tắt đèn để hiểu thuế và quyền

Thuế thân kiểu chị Dậu không còn, nhưng cấu trúc nỗi khổ trong Tắt đèn thì vẫn đáng học:

  • Thuế đánh theo sổ, không theo người: một sai sót hành chính (không xoá tên người chết) có thể đè nặng lên một gia đình. Đây là lý do việc giữ giấy tờ, kiểm tra thông tin của mình trong hồ sơ nhà nước ngày nay là việc nên làm.
  • Nợ đẩy người ta bán thứ quý nhất: chị Dậu bán con vì không có đường vay hợp lý nào. Nhiều câu chuyện cho vay nặng lãi ngày nay có cùng cái lõi ấy.
  • Đọc kèm: Việc làng của chính Ngô Tất Tố để hiểu bộ máy hào lý; Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan để thấy một số phận nông dân khác cùng thời.
  • Nơi đến: nhà lưu niệm Ngô Tất Tố ở quê ông tại Hà Nội.

Câu hỏi thường gặp

Tắt đèn được viết năm nào?

Tắt đèn đăng nhiều kỳ trên báo Việt nữ từ năm 1937 và được in thành sách năm 1939. Tác giả là Ngô Tất Tố.

Vì sao chị Dậu phải bán con?

Vì nhà quá nghèo mà phải nộp sưu cho chồng đang bị bắt trói ở đình. Chị bán cái Tý bảy tuổi cùng ổ chó cho nhà Nghị Quế để lấy tiền, nhưng sau đó vẫn bị bắt nộp thêm suất sưu của người em chồng đã chết.

Đoạn Tức nước vỡ bờ kể gì?

Kể cảnh cai lệ và người nhà lý trưởng đến nhà đòi trói anh Dậu đang ốm. Chị Dậu van xin không được thì vùng lên quật ngã cả hai, cho thấy sức phản kháng của người bị dồn tới đường cùng.

Kết thúc Tắt đèn thế nào?

Chị Dậu đi ở vú cho nhà một quan cụ, bị ông cụ định làm nhục nên vùng chạy ra ngoài giữa đêm tối. Truyện dừng ở bóng tối đó, gợi một tương lai không lối thoát.

Tắt đèn thuộc trào lưu văn học nào?

Thuộc dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930–1945, cùng với Số đỏ của Vũ Trọng Phụng và Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan.

Mở app Số Kiếp

Sống trọn một đời người trong vài phút

Mở app Số Kiếp

Bài viết liên quan

Mở app Số Kiếp

Sống trọn một đời người trong vài phút

Mở app Số Kiếp Xem app khác